Nhập định là gì

-

VẤN: Con bao gồm đọc một số sách và mọi mẫu chuyện về việc tu hành niêm mật của các vị thiền sư ngày xưa. Có tương đối nhiều vị đắc đạo, nhập định, tất cả cả thần thông. Con không hiểu nhiều nhập có mang là gì? Nhập định liệu có phải là xuất hồn không? nhưng mà sinh ra thần thông là ra sao khi nhập định do thân vẫn còn đó? con đọc tất cả truyện Hòa thượng Tuyên Hóa giảng nói một vị thầy vị thương những hành giả tu thiền bị đói vì ban đêm không được nạp năng lượng nên vị ấy nhập định vào nhà bếp mang cơm cháy cho các vị ấy ăn, rồi lại bị thầy trụ trì phát hiện nay vị thầy ấy nhâp định lấy đồ ăn trong khu nhà bếp khi quán triệt phép, như một kiểu ăn cắp, là bị phạm giới, bắt buộc bị trừng trị. Vậy nhập định rồi cần sử dụng thần thông mang đồ ăn là như thế nào, bao gồm phải như vẻ bên ngoài trong phim Tây Du ký không? nếu một vị có tác dụng nhập định chế tạo ra thần thông như vậy có phải là đã đắc đạo không? Nếu đã đắc đạo thì làm thế nào còn bị phạm luật lỗi? nhỏ xin cảm ơn Sư.

Bạn đang xem: Nhập định là gì

ĐÁP:

I .

Nhập định

Nhập định, nhập là vào, định tức là thiền định, nhập định tức là vào định, thiền định là chú tâm, chăm chú vào một địa điểm nhất định, giúp mang lại người tu thoát khỏi những bóng ma vọng tưởng điên đảo, ko vọng tưởng điên đảo thì ko còn mê lầm, ko chìm đắm vào sóng ngầm tham sảnh si, cái bệnh mà muôn đời chúng sinh khó thoát. Thiền cũng tức là im lặng, mà định là an trú trong im lặng, an trú một cách tĩnh thức, giác ngộ thuần thục, lần lượt dẫn đến chứng tam muội. Người an trú trong im lặng nhiều giờ gọi là thiền định. Thiền định thì tâm không còn giữ xuất những khí độc tham sảnh si, hỷ nộ, ái, ố...những phiền não gốc thì yên ổn lặng, làm mang đến thiền giả thức giấc thức, những tùy phiền não thì ko sanh khởi, ko có chỗ đeo bám. Người thực tập thiền định thì thân ngồi tức thì thẳng, khẩu không nói lời bất thiện, vai trung phong không ý nghĩ quàng xiêng, lục căn thống nhất một lòng với ý niệm, tạo thành một thế ngồi vững vàng như đảnh tía chân; song mắt nhìn ngay lập tức chớp mũi, xủ mày một phần ba, ko hôn trầm không tán loạn.

Thiền tông coi mọi vật thể mọi pháp trên thế gian là giả, là huyễn là ko tự tánh dễ dàng xả bỏ, để lại một vùng trọng điểm thức trống vắng với thời gian nhất định. Người nhập định như thế có hiệu quả, trí tuệ phát sanh, lần lượt giải thoát khổ đau phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi. Theo phái nam tông Phật giáo thì tứ thiền là những vị trí mà người tu sĩ phải cần mẫn công phu và chuẩn mực duyệt qua. Người tu thiền theo nam giới tông thì phải thực tập nhập từ sơ thiền, đến nhị thiền, đến tam thiền, đến tứ thiền và tịnh phạm địa sau khoản thời gian ruộng trung khu của thiền sư như miếng đất trống, không còn các lọai cỏ mọc hoang phế như xưa, bé đường chứng đạo gần nhất với Thiền sư. Vị thiền sư trọng tâm như chúa tể rừng xanh, không khoan nhượng bất cứ các loài mãnh thú, không dung chứa các phiền não tham sảnh si, quán triệt phép nóng giận dấy sanh, dục ái mọc mầm cắn rễ sâu vào vùng trung khu thức. Thiền sư nhập định đến giai đoạn vong bặt các vọng thức, điều phục các chướng duyên, tự tại vô ngại trước các sở hữu pháp đeo bám từ vô thỉ, thuyên chuyển đến giai đoạn đắc đạo, giải thoát luân hồi sinh tử ngay lập tức trong hiện thế.

Kết quả của người tu thiền định không có đáp số là thần thông. Nếu đáp số là thần thông thì không có bất kì ai tu thiền đâu? Tu thiền định là để giúp mang lại tam nghiệp thanh tịnh, thân vai trung phong giải thoát những uế trược phàm phu, tiến đến thành Phật. Cuộc đời làm Thiền sư của Lô đánh Huệ Viễn vào thế kỷ thứ VI, giáo hóa đại chúng siêng niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc, thệ nguyện không đến vùng thành đô. Ngài Vân Thê Châu Hoằng dạy chúng lo niệm Phật giữ giới khiên mang lại chánh pháp thường còn, dùng pháp niệm Phật “đão võ” mang lại trời đổ mưa cứu dân lành. Ngài Trí Húc Linh Phong, giáo chúng niệm Phật niệm chú để thoát nạn tai bà tánh. Ngài Ấn quang đại sư, Hoằng Nhứt đại sư thì giáo chúng niệm Phật, giúp đời cứu đời thóat cảnh lầm than tai biến. Ngọc Lâm Quốc sư khuyến giáo chúng tụng khiếp niệm Phật, làm đúng nghĩa người đệ tử Phật mà xiển dương chánh pháp...có vị nào cầu tu chứng thần thông, để “diệu võ dương oai” với thế cuộc?

Đức Phật ra đời là để cứu dân độ thế thoát vô minh, giải thoát sanh tử luân hồi, chứ ko để dạy đệ tử tu chứng thần thông làm gì? Có ích lợi gì mà truyền bá, trong khi loài người trên hành tinh ko thoát được nạn tai, đói rách, tam đồ bát nạn lẫy lừng làm mang đến thiên hạ phải điêu đứng. Cho nên khắp răn dạy những ai là đệ tử Phật Thích Ca hãy xoay đầu trở lại với bản tánh chơn như của mình, tìm về bến giác như vào mơ, ko phải bận rộn những vọng chấp, chấp ngã và chấp pháp.

*

II .

Ý nghĩa thần thông

Đệ tử Phật tu hành đắc đạo, nhập định đắc tam muội cha la mật thì “có”, “diệu võ dương oai” biểu diễn thần thông thì “không”. Ko “diệu võ dương oai” sử dụng thần thông mới là đệ tử Phật. Người đệ tử Phật thì tu chơn, ko sử dụng thần thông, lo sử dụng thần thông thì đường luân hồi sẽ khai thông làm dẫn lộ rước chúng sanh vào ngõ tối triền miên.

Theo từ điển Việt phái mạnh của Thanh Nghị, trang 1.302 thì thần thông là phép tắc mầu nhiệm của thần tiên, của những bậc tu hành đắc đạo. Xưa thường hiểu các bậc tu hành ở non núi luôn có phép tắc thần thông siêu đẳng hơn người thế gian, nghe nói người tu vừa mới xuống núi thì mạnh dạn nghĩ người tu đó có thần thông quảng đại. Mỗi một khi thấy người tu núi thì khiếp sợ, dù giỏi giáo lý bao nhiêu cũng khiếp sợ, sợ người tu núi. Thường thì các bậc thần tiên ít xuống núi, nếu có là bởi vì đàn na tín thí cung thỉnh, hoặc nhu cầu cần thiết xua ma đuổi quỷ thì fan trần tục đi núi thỉnh các đạo sĩ hạ tô cứu bệnh, đuổi ma, trừ quỷ. Đó là suy nghĩ có truyền thống: “chỉ có người tu núi mới có thần thông đủ lực thâu hết tà ma quỷ quái nhốt trong hồ lô rước về núi dạy mang lại tu hành, trở lại hiền lành, ko phá tán bàn dân thiên hạ nữa.

Thần là tinh thần, nội lực mạnh mẽ, trung khu không chút sợ hãi ma quân, tức là ko còn ưu ái thế gian. Thông là trí tuệ thông suốt biết quá khứ hiện tại vị lai gần giỏi xa của mình và chúng sanh. Người tu phép tắc thần thông là bậc có nội lực mạnh, trí tuệ khôn xiết xuất lay chuyển thiên địa, nhỏ người, khiến cho bé người phải tin. Thần thông thường xuất phát từ vào các tôn giáo, tôn giáo cổ đại hòa nhịp với thiên nhiên, tiếp nhận những ân điển tha lực vô hình rồi lấy ban bố lại đến tín đồ, lẽ dĩ nhiên người tín đồ phải tin tưởng thôi. Không tin tưởng thì coi như bị bế tắc phần tín ngưỡng, không hưởng được sự hỗ trợ của các tu sĩ, lần lượt sẽ bị lọai trừ ra khỏi cộng đồng. Ngày xưa khi nhỏ người ko có tín ngưỡng thần linh thì chắc chắn bị lọai trừ ra khỏi đời sống cộng đồng và chết mòn bởi một khối đá mê tín dị đoan: “thần thánh là trên hết”.

Xem thêm: Có Nên Làm Ở Văn Phòng Đại Diện ? Vì Sao Phải Thành Lập Văn Phòng Đại Diện

Câu chuyện một tu sĩ trẻ và vị đạo sĩ sau đây nói lên việc Đức Phật không cho phép đệ tử sử dụng thần thông, mà chỉ dạy đệ tử lo tu hành giải thoát: “buồi sáng, vị tu sĩ trẻ mới theo Phật, đi du hành khất thực, bách bộ đến bờ sông và muốn qua sông. Vị tu sĩ liền kêu đò, sau khi qua được sông, trả tiền mang lại bác lái đò một bối xĩ (một tiền bằng trà). Lúc đó có gặp một đạo sĩ dùng nón lá qua sông. Khi qua đến nơi, gặp đạo sĩ, vị tu sĩ hỏi: “đạo sĩ tu từng nào năm mà qua sông chỉ bằng đi trên nón lá?” - tôi tu 40 năm, còn tu sĩ tu bao nhiêu năm rồi? Tôi mới tu vài tháng đạo sĩ ạ...!” Câu chuyện mang lại thấy Đức Phật ko chủ trương dạy đệ tử tu thần thông phép tắc, mà dạy tu giải thoát, ko tranh đua với đời, cần mới tu vài tháng cũng qua sông được, còn đạo sĩ phải tu đến 40 năm mới được qua sông!

Phép tắc thần thông theo Đức Phật là để diệt trừ những ma chướng, giải trừ tam độc vì tâm vọng niệm, vì chưng lục căn phát sanh, diệt trừ những nghiệp lực vì tâm tạo tác, làm đến thân khẩu ý đều thanh tịnh, các chướng ma, nội ma ngọai ma đều tiêu trừ. Thần thông cũng là kết quả quá trình tu hành khổ luyện mới thành tựu. Tuy nhiên, thần thông là một trong những phương tiện giúp đến người tu hàng phục những ma oán, nghiệp lực của thân khẩu ý. Tuy vậy vậy, Đức Phật quán triệt phép đệ tử sử dụng thần thông, vì làm tăng bản ngã người tu, làm đến người tu dễ bị lợi dụng xuôi theo dòng đời, làm mang lại người tu dễ bị nhiễm ô thế tục, chạy theo tiền tài vật chất. Người sử dụng thần thông hay “diệu võ dương oai” trước bàn dân thiên hạ, tuyệt khoe khoan mình tài giỏi hơn người, nhưng rốt rồi vẫn còn đắm chìm vào dục lạc, nữa Phật nữa ma, dễ làm mất niềm tin tha nhân.

Về việc người tu đắc thiền, có thần thông đêm hôm xuất hồn đến nhà trù của chùa ăn cắp cơm cháy rước lên mang lại đại chúng thiền sinh vẫn đói bụng cùng ăn, thầy Trụ trì dùng thần thông bắt lấy lại của thường trụ, bởi vì đó các Sư bị kiết giới “ăn cắp”. Đây là chuyện “tỷ dụ” của Hòa Thượng Tuyên Hóa nói chuyện “hoằng giới hộ giới” trong “Bộ Luật Trừng Trị Tỳ Ni” vậy thôi. Chứ tu thiền có thần thông thì khí thông thần sáng, uế trược ko còn, thân trọng điểm trong sạch làm gì có chuyện “đói meo” giữa tối và ăn uống cắp cơm cháy? hơn nữa cũng ko có việc Trụ trì dùng thần thông chận kẻ lấy cắp cơm cháy vào giữa tối trừ tịch. Trụ trì thì lo gìn giữ Phật pháp, lo việc đại sự quan trọng hơn, làm gì có việc làm Trụ trì đi canh giữ mấy miếng cơm trắng cháy? Đâu có giỏi ho gì mà gọi là thần thông biến hóa!

Tu pháp tắc thần thông là để sống hòa nhịp với môi trường khắc nghiệt, những vị trí nóng thật nóng, lạnh thật lạnh như môi trường xứ Tibet, Bhutan, Sikkim. Tu pháp tắc thần thông như các Lạt Ma ở vùng cao nguyên, cũng đồng các tu sĩ ở đồng bằng tu học đạo giải thoát. Tuy vậy tu ở vùng cao nguyên trung bộ cần có lực dụng nội tại để điều phục muôn thú, điều hòa nóng lạnh, vượt đá băng rừng đề nghị các Lạt Ma tu luyện pháp tắc thần thông và Phật giáo các vùng cao nguyên nầy thuộc Mật giáo.

III .

Lợi ích, tổn hại của pháp tắc thần thông

Như nhị chương trên đã nói, Phật vẫn có thần thông, dẫu vậy Ngài ko truyền dạy thần thông, quán triệt phép đệ tử sử dụng thần thông. Thần thông của Phật là Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha vai trung phong thông, Túc mạng thông, Thần túc thông và Lậu tận thông. Chỉ có Phật mới có Lậu tận thông, hoặc tu chứng tam minh: thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh. Điều này đến thấy Đức Phật chỉ dùng thần thông để hoằng hóa pháp tu và giúp chư đệ tử tu đắc đạo chấm dứt những phiền não tham sảnh si, làm đến các lậu hoặc không phát sanh, kiểm soát được vùng ý thức vọng tưởng điên đảo, các lậu bị tận diệt, như cỏ được làm sạch tận gốc rễ, ko phát sanh lên được. Cuộc đời hành đạo của Phật một đôi khi có thị hiện dùng thần thông làm phương tiện để cứu vớt chúng sanh.

Đức Phật dùng thần thông thuyết pháp

Trong kinh Địa Tạng, quyển thứ nhứt chương I, “Phật hiện thần thông”, có nói việc Đức Phật nhập định lên cung trời Đạo Lợi, thăm mẹ và thuyết pháp độ Thánh Mẫu cùng chư Thiên tu hành. Ý nghĩa nầy vị kinh nói lại có dùng hai chữ thần thông, thích hợp với người đắm đuối thích tu có thần thông. Thật ra thì Phật nhập định, nhập từ bi quán tưởng niệm đến Thánh Mẫu Ma Gia, vẫn an trú ở thế giới chư Thiên, nguyện mang lại Thánh Mẫu được hướng về đường Phật đạo.

Vì để hàng phục ngọai đạo

Trong tởm Đại bát Niết Bàn, lúc tranh luận với ngoại đạo Đức Phật ko bao giờ khiếp sợ, như câu chuyện: “Người phụ nữ đang mang thai, một số ngọai đạo Ni Kiền tử làm phép tắc thần thông biến hóa bầu nhi trở thành hoặc là nam hoặc là nữ và hiện tại ngọai đạo biến bầu nhi trong lòng bà mẹ cơ là nữ, rồi hướng dẫn Bà mẹ đến với Phật để tranh luận. Phật nhờ Thầy Thuốc Kỳ Bà xem bầu nhi là nam hay nữ. Kỳ Bà dùng kỹ thuật riêng rẽ của Thầy Thuốc xem bầu nhi là nam. Đến giờ tranh luận, Phật bảo bầu nhi là “nam|, ngoại đạo bảo là “nữ”. Đến kỳ nở nhụy khai hoa, Bà mẹ sanh một cháu trai, ngọai đạo thất bại, tan vỡ mặt việc sử dụng pháp tắc thần thông. Từ đó ngọai đạo không đụng chạm với Giáo đòan của Phật nữa”

Vì để cứu Bạn

vào sách Niệm Phật Thập Yếu của Hòa Thượng Thích Thiền trung khu có biên câu chuyện:” Thời nhà Tống (960-1279) Thiền sư Giới Diễn vẫn ngồi thiền móng trung tâm đến dục ái sau đó liền tự diệt. Thiền sư quang Huệ ngồi kế bên dùng huệ trung ương biết như thế, sau khi xả thiền Thiền sư quang Huệ làm bài kệ cười chê Thiền sư Giới Diễn. Thiền sư tự ái và nhập định viên tịch, tái sanh kiếp sau thành đại thi hào sơn Đông pha (1037-1101), tín ngưỡng cả Phật Khổng, Lão, cống cao ngã mạn, coi thường Tăng. Thiền sư quang quẻ Huệ biết và liền nhập định viên tịch theo tái sinh làm Thiền sư Phật Ấn để giúp tô Đông trộn trở lại với Phật pháp, sau cùng cứu được đánh Đông trộn theo Phật tu hành.

Có thần thông vẫn sa vào hố thẳm

Thời Phật sanh tiền, đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất tu tiên đắc Phi Phi Tưởng Xứ định, gồm ngũ thông. Mỗi ngày ông cần sử dụng thần thông cất cánh tới cung vua nhấn cúng dường. Hôm kia vua đi vắng, dặn Công chúa khi đạo sĩ tới đề xuất tiếp đãi, thờ dường mang lại chu đáo. Theo lệ mỗi lần ông Uất Đầu Lam Phất tới, vua thường dìu ông lên đài ngồi và cúng dường. Bấy giờ, Công chúa cũng giảm bớt ông lên đài ngồi, nhưng vày xúc tiếp xúc với thân nữ phải tâm dục của đạo sĩ khởi lên, lập tức bị mất thần thông. Thọ trai xong, đạo sĩ lừng chừng làm vậy nào để cất cánh về, đành nói với Công chúa: - Bấy lâu, ta hay được sử dụng thần thông bay đến rồi về, không tồn tại dịp mang đến dân bọn chúng chiêm bái, nay ta sẽ đi dạo về mang đến họ chiêm bái. Nghe vậy Công chúa cũng chuyển đạo sĩ đi bộ về. Ở non núi, ông ngồi thiền mặt bờ suối, bao gồm tiếng nước suối tan róc rách, giờ đồng hồ cá lội chim kêu làm trung khu rối loạn, đạo sĩ nổi sân thệ nguyện: “Sau này đang làm con chồn bay để ăn uống hết tụi bay”. Về sau, đạo sĩ nỗ lực tu với đắc định sanh lên cõi trời Phi Phi Tưởng Xứ. Đức Phật dùng thiên nhãn thấy đạo sĩ sống mang đến hàng tỷ năm, tuy nhiên khi hết kiếp sinh sống trên cõi trời có khả năng sẽ bị đọa làm bé chồn bay.

Vô ngã mới đắc đạo

Tứ Tổ Đạo Tín (580-651) hoằng đạo thiền, lúc tuổi già tìm người kế thế mà không có. Ngày nọ có vị đạo sĩ cũng tuổi già đến xin Tổ sư truyền đạo thiền. Tổ nói: Ông đã già, tôi vừa truyền đến ông thì ông tịch, làm sau tiếp tục hoằng truyền, nếu ông tái sanh được, ta sẽ truyền cho ông. Đạo sĩ ra về di ngang dòng suối, gặp cô con gái nhà họ Châu vẫn giặt lụa, Đạo sĩ nói: “xin mang lại tôi ở nhờ một đêm”. Nói hoàn thành rồi đi. Thời gian sau cô gái ko chồng mà có thai, bị phụ thân me đuổi ra khỏi nhà. Cô gái rày trên đây mai đó ăn uống xin, đến ngày nở nhụy khai hoa, sinh cháu trai kháu khỉnh, được mẹ ẵm bồng chuyên sóc nuôi dưỡng bằng những bát sữa nạp năng lượng xin. Năm lên sáu tuổi, đã đi hành khất cùng vời mẹ thì gặp Tứ Tổ. Tứ Tổ biết phía trên là đạo sĩ tái sanh, liền đón mẹ con về chùa và độ mang lại mẹ bé tu hành. Tổ hỏi: bé ko họ? Bé trả lời: có chứ! Tổ hỏi: họ gì?. Bé trả lời: bé họ Phật. Tổ biết đạo sĩ tái sanh bèn rước mẹ con về nuôi dưỡng dạy dỗ và đặt tên là Hoằng Nhẫn. Khi lớn lên Tổ Đạo Tín truyền đạo mang đến Hoằng Nhẫn làm Ngũ Tổ nối thừa đạo thiền của Tứ Tổ (Qui Nguyên Trực chỉ, quyển Thượng - Đoàn Trung Còn dịch và chú giải).

Năm 1976, sau ngày hòa bình, khiếp tế đất nước gặp khó khăn, lương thực, thực phẩm không đủ cung cấp mang lại nhân dân, chư Tăng Ni quan lại Âm Tu Viện phát trung tâm đi tăng gia sản xuất tự túc ghê tế nhà chùa. Đến giờ thọ thực, các tu sĩ chỉ ăn uống khoai mì, mì ăn uống liền (mì vụn). Có một số đạo sĩ tu mật tông, luyện chú, vào đó có ông H....B.....tu luyện cao kiến, nói chuyện nghe hùng hồn về pháp tắc thần thông, nào là sái đậu thành binh, nào là đi bên trên mây, lụt bão làm mang đến hết lụt bão...Lúc bấy giờ đạo sĩ có tiên đoán người bệnh “bị thư cái kéo” trong bụng, trong khi đem bệnh nhân đến Tôn sư thì Tôn sư chỉ phương pháp nạp năng lượng “cháu nếp hòa với sữa” trị bệnh loét bao tử, hoặc đi bác sĩ chữa bệnh. Mặc dù nhiên, đạo sĩ xin Tôn sư cho chữa bệnh bị “thư ếm” lấy “kéo” ra khỏi bụng bệnh nhân. Lúc đó, Sư xen vào nói với cư sĩ trị bệnh như vậy là là mê tín, ko thực tế, dù cư sĩ có tu luyện bao nhiêu cũng ko chữa lành bệnh nhức bao tử, rất phản khoa học! vị đó, bạn bệnh buộc phải nghe lời Tôn sư đi Bác sĩ trị bệnh. Nếu đạo sĩ có tài thì buộc phải biến hóa nhiều lúa gạo mang lại dân đỡ đói ngay lập tức lúc nầy hơn là trị bệnh bị “thư ếm” mới tuyệt vời!...cười!. Cuối cùng người nhà mang bệnh nhân đến Bác sị trị bệnh...vị đạo sĩ đó ngày ni vẫn còn tu tại vùng núi Bà Rịa, gia đình bệnh nhân vẫn còn tu hành cư trú tại Long An (Quan Âm Tu Viện - tự truyện)

Tóm lại

Qua các truyện có tương quan đến pháp tắc thần thông cho chúng ta thấy pháp tắc thần thông là công đức của quá trình tu hành. Xưa nay ko ít người tu luyện và thường xuyên sử dụng, nhưng lại trí tuệ kém, như các Gian Đạo sĩ tu luyện ở Chọt xim núi Tà Lơn, Thất Sơn, các thầy pháp, thầy cúng nửa vời... Hiệu quả không đi đến đâu, buộc phải không gọi là chứng đắc, bậc đắc đạo.. Chỉ có các bậc Phật thánh, hiền triết của Phật giáo lúc cần thiết lắm mới sử dụng đạo lực thần thông để làm lợi lạc chúng sinh một cách tích cực. Người có đạo lực thần thông là phải triệt để chấm dứt lậu tận (lậu tận minh, lậu tận thông), mới cứu rỗi được chúng sanh thoát hóa luân hồi, đó mới là bậc tu hành đắc đạo. Ngược lại những pháp tắc thần thông dùng để đi du hí, buôn thần bán thánh, giao hoan với nữ giới, phô diễn với người nhẹ dạ dễ tin, trung khu vọng tưởng điên đảo thì sa hầm sụp hố như đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất, hoặc ko ích lợi gì trong đời Bạn!